Khi ánh mắt gã dừng lại trên người ta, mặt gã lộ vẻ nghi ngờ: “Ngươi…”
Ta mỉm cười với gã, đạp lên mảnh sứ vỡ mà thong thả bước tới, rồi nhấc chiếc ghế đẩu của quán hoành thánh bên cạnh lên, hung hăng nện xuống.
Lục Hoài Chi từng nói ta là đồ điên.
Lục mẫu cũng nói ta làm mất đi phong độ của một chủ mẫu đương gia.
Vì vậy, ta đã thu liễm sự tùy hứng của mình, bắt đầu học cách làm thê tử, làm tức phụ, hiếu thuận với công công bà bà, quán xuyến hậu trạch.
Ta giống như một hòn đá vuông vức, trải qua bao va vấp, bị mài mòn hết cả tính nết, ngày càng trầm lặng, ngày càng dịu dàng, suýt chút nữa đã đánh mất chính mình.
Nhưng bọn họ vẫn không hài lòng.
Bà bà chê ta không có con. Lục Hoài Chi chê ta bướng bỉnh. Bọn họ thích La Phù Ninh hơn.
Thích sự yếu đuối không nơi nương tựa của nàng ta, thích sự trăm điểu vâng lời của nàng ta.
Không biết nếu hôm nay phụ thân may mắn thấy được bộ dạng này của ta, liệu người có hối hận vì năm đó đã một mực đòi gả ta đến kinh thành không?
Ta nghĩ ngợi, rồi nhân lúc gã nam nhân kia chưa kịp gượng dậy, ta lại bồi thêm hai đạp.
Có tay có chân mà còn phải dựa vào thê nhi để kiếm sống, lại còn giỏi sinh đẻ như vậy, chi bằng tuyệt tự luôn đi, đỡ để lại mầm họa cho người khác.
Chân ghế đẩu còn chưa kịp hạ xuống, tùy tùng đi theo ta và Hạnh Nhi đã dẫn nha dịch tới.
Tiền tài và quyền lực chưa chắc đã là thứ tốt, nhưng lại đáng tin cậy hơn phần lớn nam nhân trên thế gian này.
Từ nha phủ đi ra, Hạnh Nhi lén dúi mấy lạng bạc cho nha dịch, nhờ họ “chăm sóc” gã nam nhân kia nhiều hơn, tốt nhất là nên nhốt gã thêm vài ngày.
Sau đó, chúng ta lại đưa cô bé đến y quán.
Vết thương của cô bé không nặng, nhưng trên người lại có không ít sẹo cũ. Hạnh Nhi vừa nhìn vừa mắng, vô cùng căm phẫn. Lúc ra về, nàng lại có chút do dự.
Ánh hoàng hôn nhuộm đỏ nửa con phố. Khói bếp bữa chiều thuận theo ống khói bay lượn khắp các ngõ hẻm.
Sắp đến giờ thuyền đã hẹn khởi hành.
Ta đưa hộp thuốc mỡ trong tay cho cô bé. Ta còn chưa kịp mở lời, nó đã rụt rè ngước mắt nhìn ta:
“Tiểu thư, người có thể đi cùng con đến xem mẫu thân con không? Sáng nay lúc mẫu thân con chạy theo, mẫu thân đã bị phụ thân con đánh rất nhiều… Con hơi sợ.”
“Con biết làm rất nhiều việc. Con sắp lớn rồi, con nhất định sẽ báo đáp người.”
Nhà của cô bé ở đầu con hẻm phía đông thành. Ba gian nhà ngói, còn có một cái sân nhỏ, trông khang trang hơn tưởng tượng rất nhiều.
Khi chúng ta quay về, mẫu thân của nó đang ngồi liệt trước cửa, trên người vẫn còn vết máu. Trong sân là một mớ hỗn độn, từ trong nhà vẫn có thể nghe thấy tiếng trẻ con khóc.
“Mẫu thân!”
Cô bé chạy thẳng vào trong.
Gặp lại nhau sau khi tưởng đã cách biệt, hai mẫu nữ ôm nhau khóc nức nở.
Ta và Hạnh Nhi đứng nép sang một bên, không làm phiền họ.
Tình huống lấy oán báo ân như trong dự đoán đã không xảy ra.
Không lâu sau, người nữ nhân dắt cô bé đến cảm ơn, hai gối khuỵu xuống quỳ lạy: “Đại ân đại đức của tiểu thư, chúng ta đời này không thể báo đáp…”
Hạnh Nhi cản không kịp, người nữ nhân đã liên tục dập đầu xuống đất. Nền đá xanh vang lên tiếng “cộp cộp”.
Nàng ta kéo cô bé đến, đẩy về phía trước ta: “Đứa trẻ này xưa nay rất hiểu chuyện, ăn ít làm nhiều, việc gì cũng làm được. Xin người hãy thu nhận nó…”
Người nữ nhân tóc tai rối bù, trên trán có một mảng bầm tím dính máu khô. Nhìn sơ qua, vết thương trên người không dưới mười chỗ.
Rõ ràng là nàng ta không thể bảo vệ được cô bé nữa.
Nếu cô bé tiếp tục ở lại đây, đợi gã nam nhân kia ra ngoài, kết cục tốt nhất cũng chỉ là bị bán đi.
Ta nhất thời im lặng.
“Vậy còn ngươi?”
Nàng ta cứng đờ tại chỗ, không nói thêm lời nào.
Một người nữ nhân trẻ mới ngoài hai mươi, mà tấm lưng đã còng xuống như một bà lão.
Trước khi rời đi, ta để lại địa chỉ khách điếm cho họ, dặn cô bé có chuyện gì thì đến tìm.
Ra khỏi cửa, Hạnh Nhi hỏi ta định làm thế nào. Ta lắc đầu.
Năm thứ hai sau khi thành hôn với Lục Hoài Chi, ta đã từng có một đứa con trong một thời gian ngắn.
Khi đó ta nhớ nhà da diết, nằng nặc đòi về Giang Nam ở một thời gian. Lục Hoài Chi vốn đã đồng ý, nhưng đến phút cuối lại bị Lục mẫu gọi đi. La Phù Ninh bị phu gia bắt nạt, hắn phải vội vã đến đó chống lưng cho nàng ta.
Ta đứng đợi ở bến tàu suốt nửa ngày, vội vã quay về tìm hắn để hỏi cho ra nhẽ. Ta bị trượt chân, và đứa con chưa thành hình trong bụng cứ thế mà mất đi.
Lục Hoài Chi trách ta hấp tấp. Lục mẫu oán ta yếu ớt.
La Phù Ninh đến tận cửa tạ tội. Ba người họ đứng cùng nhau, trông lại giống một gia đình hơn cả ta.
Suốt thời gian đó, bên ngoài là vô vàn những lời chỉ trích.
Ta như một người chết đuối không tìm thấy điểm tựa, cứ trôi nổi lơ lửng, mặc cho người đời chỉ trích.
Đến tận bây giờ, khi đã bước chân ra khỏi Lục gia, ta mới có thể bình thản nhìn lại.
Đó không phải là lỗi của ta.
Con người khi bị giam hãm trong một hoàn cảnh, rất khó để tự cứu lấy mình.
Bây giờ ta ở lại đây, nếu nàng ta có tâm muốn thoát ra, ta sẽ ra tay kéo một phen.
Ngày thứ ba kể từ khi Giang Nhiễm rời đi.
La Phù Ninh ngã bệnh.
Cơn bệnh này ập đến rất dữ dội, nhưng dường như chỉ có Lục Hoài Chi mới có thể chữa khỏi.
Đại phu thu dọn hòm thuốc, muốn nói lại thôi, chỉ bảo rằng tâm bệnh khó chữa.
Tâm bệnh? Tâm bệnh từ đâu mà ra?
Lục mẫu gặng hỏi, La Phù Ninh chỉ một mực lắc đầu rơi lệ.
Thế là Lục Hoài Chi lại bị gọi từ nha thự về gấp.
…
Lục Hoài Chi mấy ngày nay vô cùng bực bội.
Giang Nhiễm ở kinh thành không người thân thích. Hắn cứ đinh ninh rằng, nàng rời khỏi Lục gia thì không còn nơi nào để đi.
Nhưng đã một ngày, rồi hai ngày trôi qua, hắn cho người lùng sục khắp các khách điếm lớn nhỏ gần bến tàu, mà vẫn không tìm thấy bóng dáng Giang Nhiễm.
Lúc này hắn mới phải thừa nhận, Giang Nhiễm đã thật sự bỏ đi.
Những lời đàm tiếu ở kinh thành xưa nay lan truyền rất nhanh.
Chuyện hắn đón Phù Ninh về nhà vừa xảy ra trước đó, thì ngay sau đó Giang Nhiễm đã lên thuyền xuôi nam. Chuyện này đương nhiên không thể qua mắt được những kẻ có tâm.
Nhớ lại ánh mắt trêu chọc của đồng liêu lúc ra khỏi cửa, Lục Hoài Chi có chút tức giận: Giang Nhiễm xưa nay luôn biết đại thể, tại sao cứ nhất quyết vào lúc này lại không thể nghĩ cho hắn một chút?
Còn cả Phù Ninh, Phù Ninh…
Hắn đẩy cửa bước vào. La Phù Ninh đang vận một bộ y phục màu trắng tinh, tựa vào đầu giường. Thấy hắn bước vào, nàng khẽ nghiêng người.
Hàng mi rũ xuống, một giọt lệ nơi khóe mắt cứ thế rơi xuống vạt áo trước ngực.
“A Hoài đến rồi, sao cũng không báo một tiếng…”
La Phù Ninh khóc trông rất đẹp.
Nàng thân hình mảnh mai, mặc y phục trắng tinh lại có một vẻ phong lưu khó nói. Khi ngước mắt nhìn người khác, ánh mắt long lanh, khiến người ta không khỏi động lòng trắc ẩn.
Bọn họ lớn lên cùng nhau từ nhỏ. Lần đầu tiên gặp mặt, La Phù Ninh cũng đang khóc.
Lúc đó nàng vừa mất cả phụ thân lẫn mẫu thân, bị cữu mẫu đuổi ra khỏi nhà. Ánh mắt nàng nhìn người khác luôn rụt rè, giống như một con thỏ nhỏ bị hoảng sợ.
Lục mẫu bảo hắn phải bảo vệ nàng thật tốt. Hắn cũng cảm thấy vị biểu tỷ này có hơi nhát gan.
Hắn đã quen với việc che chở cho nàng.
Nàng không giống Giang Nhiễm, chỉ cần có một chút không vừa ý là lập tức quấy phá, ngay cả khi có mẫu thân ở bên cạnh cũng dám vênh cổ lên mà quát vào mặt hắn.
Lục Hoài Chi cuối cùng vẫn mềm lòng: “Có ai bắt nạt tỷ à?”
“Không có, A Hoài đệ đừng nghĩ nhiều.”
“Ta chỉ là…”
La Phù Ninh cúi đầu, nước mắt rơi lã chã.
“Ta chỉ là cảm thấy có chút áy náy. Nếu không phải ta gửi thư cho di mẫu, Nhiễm Nhiễm cũng sẽ không bỏ đi, hai người cũng sẽ không… Đều tại ta.”
Nàng giơ tay lên, để lộ vết bầm tím trên cổ tay.
Lục Hoài Chi có chút hoảng hốt.
Nếu là Giang Nhiễm, chắc chắn nàng sẽ lập tức cầm roi lên mà náo loạn với hắn một trận trời long đất lở, làm gì có chuyện để gã nam nhân kia được nước lấn tới trước mặt nàng.
Dù có khóc, thì cũng phải đánh trả xong rồi mới khóc.
Nghĩ đến Giang Nhiễm, Lục Hoài Chi không hiểu sao lại thấy phiền não.
Hắn thuận miệng dỗ dành vài câu, rồi bước ra khỏi phòng.
Trong ấn tượng của hắn, Giang Nhiễm chỉ khóc đúng hai lần.
Một lần là ngày nàng theo hắn đến kinh thành. Nàng đứng trên thuyền khóc nhòe cả lớp trang điểm. Phấn son lem luốc trên má, trông lại có nét đáng yêu khó tả. Hắn đã không nhịn được mà bật cười.
Giang Nhiễm ngước mắt lườm hắn, nói ngươi hiểu cái gì, đường về Giang Nam xa xôi, lần này đi không biết năm nào tháng nào mới được về nhà.
Giống như một con mèo nhỏ đang giương oai múa vuốt.
Lòng hắn chợt rung động, bất giác mềm giọng an ủi nàng, nếu muốn về thì cứ về, mọi việc đã có hắn gánh vác.
Nhưng sau này dường như luôn có việc cản trở. Bao nhiêu năm như vậy, hắn cũng chưa thể cùng nàng về Giang Nam một chuyến.
Lần còn lại, hình như là vào năm thứ hai sau khi họ thành hôn, Giang Nhiễm có thai.
Giai đoạn đầu thai kỳ nàng phản ứng rất dữ dội, ăn gì nôn nấy, tâm trạng cũng không tốt, cứ nằng nặc đòi về nhà. Hắn vốn đã đồng ý đưa nàng về Giang Nam một chuyến, nhưng giữa đường lại vì lo lắng cho Phù Ninh mà để nàng đợi ở bến tàu suốt nửa ngày.
Nghĩ đến đứa con chưa kịp chào đời, Lục Hoài Chi có chút trầm mặc.
Phòng của bọn họ vẫn luôn có người quét dọn, đồ đạc bên trong vẫn được bài trí y như cũ.
Dường như chỉ giây lát nữa thôi, Giang Nhiễm sẽ từ sau tấm bình phong bước ra, luyên thuyên với hắn về những chuyện vặt vãnh trong phủ, hay hàng nào trên phố vừa ra loại bánh ngọt hoa quả mới.
…
Từ cửa sổ nhìn ra, vừa hay có thể thấy giàn xích đu trong viện.
Những cành hoa khô héo quấn quanh giàn leo, xào xạc trong gió.
Ngoài sân trời vẫn quang đãng, gió hiu hiu thổi. Có nha hoàn bưng khay đi ngang qua, cách bức tường viện mà rỉ tai nhau nói chuyện.
Lục Hoài Chi bần thần, bỗng cảm thấy trong phòng yên tĩnh đến đáng sợ.
Giang Nhiễm là một người không bao giờ chịu ngồi yên.
Khi mới thành hôn, hắn thường xuyên kiếm cớ đưa nàng trốn khỏi phủ, trèo cây hái quả, xuống sông mò cá. Hai người đã làm không ít chuyện vượt quá khuôn phép.
Có lần nửa đêm trèo lên mái nhà ngắm trăng làm nha hoàn sợ hết hồn, còn kinh động đến cả mẫu thân.
Kể từ đó, mẫu thân luôn không thích nàng, cảm thấy nàng làm hắn hư hỏng, ham chơi quên mất chí lớn.
Thời gian đầu, mỗi khi mẫu thân nhắc đến, hắn còn bênh nàng vài câu. Sau này, hắn ngày càng bận rộn, Giang Nhiễm bị mẫu thân giữ rịt trong viện, bọn họ bắt đầu cãi vã ngày một nhiều hơn.
Ban đầu Giang Nhiễm còn cãi lại vài câu. Sau khi đứa con mất, nàng bắt đầu ngày càng trầm mặc.
Ngay cả khi hắn lại một lần nữa vì chuyện của Phù Ninh mà thất hứa, nàng cũng chỉ mỉm cười.
Nhưng không sao cả. Đợi hắn đón nàng từ Giang Nam về, bọn họ sẽ còn có rất nhiều đứa con khác.
Hoàng hôn dần buông, màn đêm mực tàu từng chút một xâm chiếm mặt đất.
Lục Hoài Chi nhìn ra khoảng trời vuông vức ngoài cửa sổ. Trăng đã lên cao, nhưng lòng hắn lại theo vầng trăng mà dần chìm xuống.
Chỉ là, liệu Giang Nhiễm có còn quay về không?
Mấy ngày còn lại, ta dắt Hạnh Nhi dạo quanh các tiệm son phấn ven đường. Khi về đến khách điếm thì đã là giờ Ngọ.
Hạnh Nhi đặt đống son phấn xách trên tay xuống, vậy mà đã chất đầy cả bàn.
Nhìn kỹ lại, từ loại cao cấp nhất của tiệm Quỳnh Ngọc Các nổi tiếng nhất Thanh Trì, đến loại phấn bột thô rẻ tiền ở gánh hàng rong ven đường, không thiếu thứ gì.
Hạnh Nhi than thở một tiếng: “Tiểu thư, người không phải là định mở một tiệm hương phấn ở đây đấy chứ?”
Ta bày các loại son phấn ra bàn thành một hàng, xem xét từng loại một.
Biết người biết ta, mới có thể trăm trận trăm thắng.
Ta tuy có mấy gian hàng ở kinh thành, nhưng bây giờ đường sá xa xôi, sau này về Giang Nam cũng không thể ngồi không ăn núi lở.
Thanh Trì nằm ở vị trí trung tâm, đi lại thuận tiện, vốn đầu tư không lớn, rất thích hợp để ta luyện tay nghề.
Xuống đại sảnh, Hạnh Nhi lại lẩm bẩm: “Cũng mấy ngày rồi, không biết cô bé kia thế nào rồi.”
Ngày đó vừa ra khỏi cửa, chúng ta đã bị một nữ nhân ở đầu ngõ chặn lại.
Người nữ nhân đó nửa che nửa giấu nấp sau cánh cửa, khuyên can chúng ta: “Cô nương, ta thấy người cũng là người tốt, người đừng xen vào chuyện của họ nữa, sẽ có án mạng đó!”
Qua nói chuyện mới biết, người nữ nhân tên là Dung Nương, là tức phụ nuôi từ nhỏ được nhà họ Mã mua về.
Nhà gã nam nhân kia gia cảnh cũng coi như khá giả, ban đầu cuộc sống cũng hòa thuận. Chỉ là sau này không biết từ đâu dính vào thói cờ bạc rượu chè, gia sản trong một đêm liền bay sạch.
Trong túi có một đồng bạc cũng dám đi đánh bạc. Thua rồi thì về nhà đánh thê tử bán con.
“Ai mà dám khuyên nàng ta chứ. Dù sao họ cũng là phu thê. Mà đám con bạc thì toàn là kẻ liều mạng!”
Người nữ nhân thở dài.
“Cô nương cũng mau đừng xen vào nữa. Con Dung Nương đó cũng là kẻ cố chấp. Để gã nam nhân của nàng ta biết được là xảy ra chuyện lớn đó!”
Nhịn một chút, nhịn một chút rồi cũng qua.
…
Đến ngày thứ sáu, cô bé mới tìm đến.
Nó đến vào lúc đêm khuya, trán bị rách một mảng. Mồ hôi hòa cùng máu nhỏ xuống đất, khiến gã tiểu nhị chạy bàn suýt nữa sợ ngất đi.
Ta vội vã xuống lầu, đưa cho tiểu nhị ít bạc, nhờ gã gọi đám tiểu nhị trong khách điếm đi theo chúng ta.
Đêm khuya, sự tĩnh mịch bị xé tan bởi những tiếng bước chân hỗn loạn.
Ánh đuốc lập lòe trong bóng tối. Chó bắt đầu sủa vang, hết tiếng này đến tiếng khác. Đầu con hẻm lập tức náo loạn cả lên.
Cửa lớn nhà họ Mã mở toang, nhưng hàng xóm bốn phía đều cửa đóng then cài.
Gã nam nhân thấy ánh đuốc đang áp sát, lập tức lộ rõ vẻ hung tợn. Gã xô ngã Dung Nương xuống đất: “Là ngươi! Có phải ngươi gọi người tới không?! Hả?!”
“Con tiện nhân này, ngươi muốn chết à!”
Mọi chuyện xong xuôi, Hạnh Nhi tiễn tiểu nhị chạy bàn ra cửa, rồi giữ lại hai người ở ngoài cửa để canh chừng.
Gã nam nhân bị đám tiểu nhị đánh cho nửa sống nửa chết, trói vào gốc cây lớn trong sân. Vạt áo bị ngọn đuốc ta ném ra lúc nãy cháy sém một mảng, để lộ dấu chân rõ to trên cái bụng phệ.
Ta ghê tởm liếc đi chỗ khác.
Dung Nương chỉnh lại trang phục, bước tới cảm ơn ta.
“Đa tạ tiểu thư. Hôm nay nếu không có tiểu thư…”
Mắt nàng ta bị đánh bầm xanh, nửa bên mặt sưng vù, vết máu trên trán dính bết vào tóc. Dáng đi khập khiễng, xem ra chân phải cũng bị thương không nhẹ.
Ta lắc đầu: “Ngươi nên cảm ơn nữ nhi của ngươi.”
Nàng ta im lặng.
Ta lại nói: “Vài ngày nữa, ta phải đi rồi.”
Ánh trăng đêm nay rất đẹp, dịu dàng như nước, phủ lên vai ta. Ta bỗng dưng có hứng kể chuyện.
Cô bé bưng ghế đẩu ra, ngồi cạnh Dung Nương: “Tiểu thư trước đây chắc hẳn lợi hại lắm nhỉ?”
Ta bất giác có chút chột dạ, ho khan hai tiếng: “Cũng… coi như là lợi hại.”
“Lúc nhỏ ta là một tiểu bá vương, đánh đám công tử bột, đá cả huynh trưởng. Đến tận năm mười bảy tuổi cũng không ai dám đến dạm hỏi.”
“Mẫu thân ta lo đến phát khóc, phụ thân ta nằm trên giường bệnh vẫn còn canh cánh chuyện cưới xin của ta. Cuối cùng đành phải viết thư cho một người đệ tử của ông, nửa ép buộc nửa dụ dỗ, bắt người ta cưới ta.”
“Ban đầu ta cứ ngỡ hắn ít nhiều cũng có chút thích ta. Nhưng sau này ta mới biết, hắn đã sớm có người trong lòng.”
“Có một thời gian, tất cả mọi người đều nói ta sai rồi. Ta cũng đã từng nghĩ mình là kẻ xấu.”
“Ta không dịu dàng, ta nóng nảy, ta không tinh tế, ta ham chơi hiếu động. Ta không có lấy một ưu điểm nào mà người đời cho rằng nữ tử nên có.”
“Nhưng dạo gần đây ta bỗng nghĩ thông suốt rồi. Hôn sự năm đó, hắn đã gật đầu đồng ý, không phải ta ép buộc. Con đường quan lộ của hắn cũng có phụ thân và huynh trưởng của ta tương trợ. Ta không nợ hắn.”
“Nếu bắt buộc phải nói, thì mấy năm qua, chẳng qua chỉ là dày vò lẫn nhau, ai cũng có nỗi khổ riêng.”
Ta nhìn nàng ta, cười cười: “Năm đó, không có ai đứng bên cạnh ta mà nói rằng, ngươi không sai, ngươi không nợ hắn.”
“Bây giờ, ta muốn đứng bên cạnh ngươi và nói, ngươi không sai, ngươi không nợ gã bất cứ thứ gì.”
“Ngươi có bằng lòng làm lại từ đầu không?”
Một lúc lâu sau.
Dung Nương ngẩng đầu, nước mắt tuôn như suối.
Một tháng sau, Lục Hoài Chi đuổi theo đến tận Giang Nam.
Nhà của Giang Nhiễm không có ai.
Hắn đợi trong sảnh một lát, huynh trưởng của Giang Nhiễm mới vội vã chạy đến, vạt áo còn dính chút thuốc màu.
Sau vài câu hàn huyên, hắn thăm dò: “Nghe nói nhạc mẫu ốm nặng, Nhiễm Nhiễm lòng như lửa đốt. Mấy hôm trước còn nói muốn về Giang Nam xem sao…”
Huynh trưởng của Giang Nhiễm sững sờ: “Mấy hôm trước Đỗ bá mới dẫn người xuống thuyền, bảo là trên đường gặp chút chuyện nên phải trì hoãn vài ngày.”
“Hai người không đi cùng nhau sao?”
Nha hoàn dâng trà, rồi lặng lẽ lui ra.
Hơi nước bốc lên, lượn lờ giữa hai người.
Lục Hoài Chi cụp mắt: “Nhiễm Nhiễm sốt ruột, nên đã đi trước một bước.”
Huynh trưởng của Giang Nhiễm không nghi ngờ gì.
Sau khi Lục Hoài Chi đi, huynh trưởng của Giang Nhiễm nhắc chuyện này với phu nhân. Phu nhân im lặng một lát, hồi lâu mới nói: “Chuyện này tạm thời đừng để mẫu thân biết.”
“Mấy hôm trước lúc Đỗ bá về, ta đã thấy có gì đó không ổn. Nhiễm Nhiễm ở Lục gia… e là đã chịu ấm ức rồi.”
Huynh trưởng sững sờ.
Ngay lập tức, hắn nổi giận, định đi tìm Lục Hoài Chi nói cho ra nhẽ.
Nhưng vừa bước được nửa bước, đã bị phu nhân ở sau gọi giật lại: “Đứng lại! Chàng muốn mẫu thân bệnh càng thêm bệnh à?”
“Lục Hoài Chi bây giờ đuổi theo đến tận đây, chắc hẳn đã có ý hối cải.”
“Chuyện của Nhiễm Nhiễm, đợi muội ấy về, chúng ta hẵng bàn bạc sau.”
…
Lục Hoài Chi không ở lại Khương phủ.
Ra khỏi phủ, trời đã xế chiều.
Mà tim hắn, cũng dường như theo vầng mặt trời lặn kia mà chìm xuống từng chút một.
Ban đầu, hắn nghĩ Giang Nhiễm chẳng qua chỉ là giận dỗi. Nàng ở kinh thành không người thân thích, rời khỏi Lục gia, nàng còn có thể đi đâu?
Sau đó, hắn nghĩ Giang Nhiễm chỉ là muốn về mẫu gia ở một thời gian.
Hắn biết, sức khỏe của nhạc mẫu không tốt, nàng vẫn luôn lo lắng. Nàng chắc chắn sẽ không vào lúc này mà khiến nhạc mẫu phải phiền lòng vì mình, đúng không?
Nhưng bây giờ, Giang Nhiễm vừa không ở kinh thành, cũng chưa về Giang Nam. Trời cao đất rộng, hắn biết đi đâu tìm nàng?
Lục Hoài Chi bước đi trên phố, lòng đầy hoang mang.
Người qua kẻ lại xung quanh, thẩm thẩm xách giỏ mặc cả, gã bán hàng rong gánh gánh hàng rong hớn hở về nhà, đứa trẻ cầm kẹo hồ lô ngồi bệt xuống đất khóc òa… Dường như ai ai cũng có chốn để về.
Hắn và Giang Nhiễm… Bọn họ vốn dĩ cũng nên có một đứa con.
Hắn có thể cõng nó trên vai đi xem kịch. Nó có thể ôm chân Giang Nhiễm làm nũng, gọi mẫu thân.
Trời không biết đã đổ mưa từ lúc nào.
Phía trước bỗng có một bóng người cầm ô lướt qua.
Mắt Lục Hoài Chi chợt sáng lên: “Nhiễm Nhiễm, là nàng…”
Người đó quay đầu lại, nhưng không phải là gương mặt hắn mong chờ.
Nữ nhân lùi lại mấy bước, rụt rè trốn sau lưng người hàng thịt bên cạnh.
“Phụ thân, người này… người này trêu ghẹo con…”
“Xin lỗi… ta nhận nhầm người, không cố ý…”
Lục Hoài Chi trăm miệng cũng không thể giải thích, gã hàng thịt vai u thịt bắp đã cầm dao phay xông ra khỏi sạp.
“Ai?”
“Thằng nhãi nhà ngươi dám bắt nạt nữ nhi ta à?!”
Việc chuẩn bị cho tiệm son phấn không được thuận lợi lắm, nhưng may là bây giờ thứ ta có nhiều nhất chính là thời gian.
Đêm đó, Dung Nương cầm cây cán bột, vừa đánh vừa chửi. Gã nam nhân từ chỗ hăm dọa uy hiếp ban đầu, đến lúc quỳ xuống đất cầu xin tha mạng cũng chỉ mất một tuần trà.
Ta hỏi Dung Nương sau này định mưu sinh bằng nghề gì.
Nàng ta cười bẽn lẽn, nhưng ánh mắt lại rất sáng: “Ta không biết chữ, làm tức phụ nuôi từ nhỏ cho người ta mười mấy năm, ngoài giặt giũ may vá ra thì không biết làm gì cả.”
“Nhưng ta nấu ăn cũng tạm được. Ta muốn sau này tích góp chút tiền, mở một quán ăn, rồi từ từ đi tìm nữ nhi của ta.”
Cô bé bên cạnh ríu rít bổ sung: “Mẫu thân con nấu ăn ngon lắm, con cũng có thể phụ giúp!”
“Đợi con lớn, con sẽ mua một chiếc thuyền, đi thuyền tìm muội muội.”
Dung Nương vốn còn có hai người nữ nhi nữa.
Đứa lớn tròn một tuổi thì bị sốt cao. Nàng ta đội mưa tuyết đưa con đến y quán, canh giữ suốt một ngày một đêm nhưng không cứu được. Đứa thứ ba lên bốn tuổi bị gã nam nhân bán cho bọn buôn người qua đường. Nàng ta không cho, bị đánh đến ngất đi, lúc tỉnh dậy thì con đã mất dạng từ lâu.
Mấy ngày còn lại, ta mua một căn nhà có sân nhỏ gần bến tàu. Sân không lớn, phía sau vừa đủ cho mấy người chúng ta ở.
Hai gian nhà mặt tiền phía trước dọn dẹp một chút là vừa hay cho Dung Nương mở quán ăn.
“Tiểu thư đại ân, Dung Nương vốn đã không có gì báo đáp, bây giờ lại… thực sự không thể nhận.”
“Này, ngươi đừng khóc nữa…”
Ta đỡ Dung Nương dậy, đưa túi tiền trong tay cho nàng ta: “Chỗ ở này không phải cho ngươi ở không đâu.”
“Qua một thời gian nữa, ta và Hạnh Nhi phải về Giang Nam một chuyến. Cái sân này đành nhờ ngươi và con bé trông coi giúp.”
“Ta thấy trong sân còn một khoảnh đất trống, nếu ngươi muốn, cũng có thể trồng ít rau dưa hoa quả. Ta và Hạnh Nhi cũng được thơm lây.”
“Còn số bạc này, cứ coi như ta hùn vốn. Ngươi bỏ sức, ta bỏ tiền. Đợi quán ăn có lời, ngươi trả lại ta cũng chưa muộn.”
Dung Nương là người nói là làm, ngay trong ngày liền xắn tay áo lên dọn dẹp.
Bến tàu lưu lượng người qua lại rất đông, thuyền bè đến đi đều phải dừng ở đây. Người đến mở tiệm nhiều, mà người đóng cửa cũng không ít.
Dung Nương mua được một lô bàn ghế gỗ với giá cực thấp. Tối đến, nàng ta vậy mà vẫn còn sức để khai khẩn mảnh đất trong sân.
Ta và Hạnh Nhi nhìn mà chỉ biết than thở thán phục.
Ngày chia tay, cô bé níu lấy tay áo ta không chịu buông.
“Tỷ tỷ, khi nào tỷ quay lại?”
Hạnh Nhi đứng bên cạnh chen vào: “Tiểu thư còn chưa đi mà ngươi đã mong người ta quay lại rồi, đúng là cái đuôi phiền phức.”
Cũng lạ thật, hai đứa này mới gặp thì hợp nhau lắm, quen thân rồi lại thành một đôi oan gia.
Cô bé lè lưỡi trêu Hạnh Nhi, đôi mắt long lanh nhìn ta: “Tỷ tỷ cũng đặt tên cho ta đi! Phải hay như tên của các tỷ.”
Ta xoa đầu nó: “Ta đặt cho muội một cái tên ở nhà nhé? Tên huý đợi sau này muội biết chữ rồi tự mình chọn.”
“Cứ gọi là Tiếu Tiếu đi, trong từ ‘tiếu khẩu thường khai’ (luôn luôn vui vẻ).”
Ta không ngờ rằng, người đầu tiên ta gặp ở Giang Nam lại là Lục Hoài Chi.
Hắn cầm ô đứng trên bờ, dường như đã đợi rất lâu. Vai áo và tóc mai còn vương hơi nước chưa tan.
Khiến không ít cô nương phải ngoái đầu nhìn lại.
Cách đám đông ồn ã, ta lặng lẽ đứng yên tại chỗ.
Lục Hoài Chi chớp mắt, ngây ngẩn nhìn ta.
Một lúc lâu sau, hắn cẩn trọng đưa tay về phía ta: “Nhiễm Nhiễm… ta đến đón nàng về nhà.”
“Chuyện trước kia đều cho qua đi. Sau này nàng muốn về Giang Nam, ta sẽ cùng nàng về Giang Nam. Nàng muốn thăm mẫu thân, ta sẽ cùng nàng đi thăm mẫu thân. Tất cả đều nghe theo nàng, có được không?”
Ta lắc đầu.
Lời hứa của hắn, giống như cát trong lòng bàn tay, ta không giữ được, mà cũng không muốn giữ nữa.
“Lục Hoài Chi, bức thư ta gửi về kinh thành, ngươi nhận được chưa?”
Khi thuyền dừng ở huyện Thanh Trì, ta đã viết một bức thư cho Lục Hoài Chi.
Tính toán ngày tháng, nếu hắn đi chậm, vừa hay có thể nhận được.
Sắc mặt Lục Hoài Chi trắng bệch: “Thư… thư gì?”
Đang lúc nói chuyện, lại có thuyền đò cập bến, đám đông ùa đến như thủy triều.
Lục Hoài Chi vội vàng tiến lên mấy bước, đưa tay ra kéo ta: “Trước khi đến đây ta đã đưa Phù Ninh về rồi. Sau này chỉ có hai chúng ta, Nhiễm Nhiễm, chúng ta sống với nhau thật tốt, những chuyện đó đều cho qua đi…”
“Không qua được đâu, Lục Hoài Chi.”
Vết thương bị rách còn để lại sẹo, chuyện đã làm sao có thể thu hồi.
Ta cũng từng nghĩ mình có thể tha thứ. Nhưng vừa nhìn thấy Lục Hoài Chi, những ngày tháng cô độc không nơi nương tựa kia lại ùa về.
Trời nắng như thiêu như đốt, ta đứng đợi hắn ở bến tàu suốt nửa ngày. Lo lắng hắn xảy ra chuyện, ta vội vã quay về, xe ngựa đi được nửa đường lại nghe thấy giọng của Lục Hoài Chi.
Hắn che chở La Phù Ninh sau lưng, giống như một con sư tử đang giận dữ, chỉ thiếu chút nữa là xông lên.
Hắn nói: “Ngươi dám đối xử với Phù Ninh như vậy?! Nàng vì ngươi, vì Dương gia các ngươi mà sinh con dưỡng cái, quán xuyến nhà cửa, đã có lúc nào lơ là chểnh mảng sao?!”
Gã nam nhân đối diện rõ ràng có chút đuối lý, nhưng rồi lại cười khẩy hai tiếng, hất hàm: “Lục Hoài Chi, ngươi cũng đừng ở đây mà giả làm thánh nhân.”
“Ai mà không biết ngươi và La Phù Ninh là thanh mai trúc mã, sớm đã có tình ý. Báo đáp ân sư? Nói hay thật. Chẳng lẽ Khương gia không cho ngươi lợi lộc gì chắc? Bây giờ ở đây giả nhân giả nghĩa.”
“Hay là bà cọp cái ở nhà trấn không nổi, nên lại nhớ đến tình cũ rồi?”
Gã nam nhân ánh mắt đầy giễu cợt, câu nào câu nấy đều đâm trúng tim đen.
La Phù Ninh cản không kịp, Lục Hoài Chi đã xông lên.
Phía đối diện lập tức loạn thành một đoàn.
Ta buông rèm xe xuống, cầm lấy cây roi ngựa trên ghế. Ta thầm đoán, hai kẻ bất tài này đánh nhau, cũng chẳng hơn gì cái công phu mèo cào của ta.
Ta vốn định xông vào góp vui, nhưng khi hoàn hồn lại mới phát hiện, nước mắt đã chảy đầm đìa trên mặt.
Thời gian quả đúng là liều thuốc chữa lành vết thương.
Chuyện năm đó khiến ta trằn trọc không ngủ, nước mắt ướt đẫm gối, bây giờ nghĩ lại, cứ như đã là chuyện của kiếp trước.
Lục Hoài Chi bước tới.
Ta lại lùi về một bước.
“Lục Hoài Chi, chúng ta hòa ly đi.”
Lục Hoài Chi không dám tiến lên nữa, ngơ ngác đứng tại chỗ: “Nhiễm Nhiễm, nàng không thể đối xử với ta như vậy…”
“Ta không đồng ý. Phù Ninh đã về rồi, mẫu thân còn đang nằm liệt trên giường bệnh, trong nhà loạn thành một mớ, nàng phải về cùng ta mới phải…”
Ta lắc đầu, không muốn dây dưa với hắn nữa.
Về phủ, ta thấy một góc vườn hoa còn trống, rất thích hợp để trồng rau. Hạnh Nhi cười, bảo ta bị Dung Nương lây bệnh rồi.
Sức khỏe của mẫu thân tốt hơn ta tưởng rất nhiều, chỉ là hai bên thái dương đã điểm bạc.
Ngày hôm sau, Lục Hoài Chi đến bái phỏng, liền bị huynh trưởng đuổi thẳng ra ngoài.
Những lời năm đó hắn dùng để chất vấn phu quân của La Phù Ninh, bây giờ lại khiến chính hắn cứng họng không nói nên lời.
Ta cầm cuốc, muốn học theo dáng vẻ của Dung Nương, trồng ít dưa ngọt ở góc vườn, nhưng không hiểu sao cây cứ chết mãi.
Bị huynh trưởng cười là “Đông Thi bắt chước”, “Hồi nhỏ trồng hoa trồng cỏ, không cây nào sống nổi. Bây giờ trồng dưa trồng quả, vẫn không xong.”
“Đúng là ‘Diệt Tuyệt Sư Thái’ bẩm sinh.”
Ta không giận, quay đầu đi mách tẩu tẩu chỗ giấu quỹ đen mới của huynh ấy.
Buổi tối, lúc huynh trưởng đến tìm ta tính sổ, ta đang hóng mát dưới gốc cây hòe lớn trong sân của mẫu thân.
Mẫu thân cười huynh ấy: “Lớn từng này rồi, còn chấp nhặt với muội muội.”
Huynh trưởng tức tối, lại rời khỏi sân, đi tìm tẩu tẩu mách lẻo.
…
Lục Hoài Chi đã ở lại Giang Nam.
Suốt nửa tháng liền, ngày nào hắn cũng đến Khương phủ bái phỏng. Mềm mỏng hay cứng rắn đều không ăn thua, đuổi cũng không chịu đi.
Huynh trưởng bị hắn làm phiền đến phát bực, mặt mày ủ ê than thở: “Nó không phải là vẫn nghĩ muội sẽ tha thứ cho nó đấy chứ?”
Ta phủi đất trên tay, nhìn đám dây dưa đang héo rũ trên mặt đất, có chút tiếc nuối.
“Thôi vậy, để ta ra nói chuyện với hắn.”
“Muội còn muốn gặp nó à?”
“Người nên chột dạ là hắn, không phải ta.”
Nửa tháng sau khi về nhà, ta lại gặp Lục Hoài Chi.
Hắn mặc một bộ trường bào màu xanh đen, ngồi trong đại sảnh. Chén trà trước mặt đã nguội ngắt từ lâu.
Trông có chút quen mắt.
Ta ra hiệu, nha hoàn bên cạnh lập tức tiến lên thu chén trà cũ, bưng chén mới lên.
“Nếm thử đi. Tuy không đậm đà như loại trà thanh mà ngươi thích, nhưng cũng có hương vị riêng.”
“Nhiễm Nhiễm…”
Ánh mắt Lục Hoài Chi đầy cay đắng.
Trà mơ vốn có vị ngọt đọng lại nơi đầu lưỡi, nhưng hắn lại chỉ cảm thấy chát đắng khó nuốt.
“Thật sự…” không còn cơ hội nào sao?
Lục Hoài Chi chỉ nói được hai chữ, rồi không thể thốt nên lời.
Hắn thà rằng ta cứ quấy phá một trận, giống như trước đây, nổi nóng, đập phá đồ đạc, thậm chí là cầm roi đánh hắn một trận.
Chứ không phải như bây giờ, bình thản ngồi đây nói chuyện phiếm với hắn.
Ta lắc đầu: “Lục Hoài Chi, chuyện trước kia đều đã qua rồi.”
“Bây giờ ta rất tốt, cũng chúc ngươi và La cô nương nối lại duyên xưa.”
Thoắt cái đã vào thu.
Rừng cây trên ngọn núi sau Giao Lộ đã nhuốm màu, lá rụng bay lả tả.
Cùng mẫu thân từ chùa Phật trở về, Hạnh Nhi nhắc ta, Dung Nương từ Thanh Trì có gửi thư tới.
Gửi kèm theo thư còn có mười lạng bạc và một ít mứt quả do nàng ta tự tay làm.
Trong thư nói, nhà bên cạnh mới có một thư sinh thi rớt chuyển đến, hàng ngày ngồi ở bến tàu viết thư thuê.
Bức thư này chính là nhờ hắn viết hộ. Mấy nhà xung quanh họ bàn bạc với nhau, quyết định gửi đám trẻ con đến chỗ thư sinh kia học chữ, cũng không nhiều, mỗi ngày hai canh giờ.
Việc buôn bán của quán ăn cũng rất tốt. Hàng ngày nàng ta đều phải bận rộn đến tận khuya, đau lưng mỏi gối. Mấy hôm nay nghe lời Tiếu Tiếu khuyên, nàng ta đang cân nhắc thuê thêm người phụ giúp, cũng đã nhắm được người rồi.
Mã Đại Dũng, chính là phụ thân ruột của Tiếu Tiếu, mấy hôm trước lại tìm đến, bị Dung Nương cầm dao phay đuổi đánh chạy đi.
Viết xong thư trả lời, tiểu tư đã đợi sẵn ngoài sân, nói là ngoài cửa có một cô nương chỉ đích danh muốn tìm ta.
Ta đặt bút xuống, bảo tiểu tư mời người vào.
Không ngờ lại là La Phù Ninh đuổi theo đến tận đây.
Nàng ta mặc một bộ váy xếp màu hồng đào, trên đầu cài trâm vàng, có thể thấy đã trang điểm rất kỹ lưỡng, chỉ là sắc mặt không được tốt lắm.
Sắc mặt La Phù Ninh có chút tái nhợt, u uất nhìn ta một cái.
Ta thấy có chút khó hiểu: “Có chuyện gì sao?”
Nàng ta không nói gì, ta cũng không vội.
Ta thong thả pha một tách trà mơ, đẩy về phía nàng ta.
Một lúc lâu sau, La Phù Ninh đột nhiên lên tiếng: “Ta có thai rồi.”
“Hả?”
Ta có chút mờ mịt.
Nàng ta lại nói: “Là con của Lục Hoài Chi.”
Giọng nói rất nhẹ, không nghe ra cảm xúc gì.
Ta thở phào một hơi, vội vàng bưng tách trà về.
“Làm ta hết hồn, còn tưởng ngươi định nói đứa bé là của ta chứ.”
“Vậy chúc hai người bách niên hảo hợp, sớm sinh quý tử. Tiền mừng cưới thì thôi nhé, ta tự thấy quan hệ của chúng ta chưa tốt đến mức đó.”
“Giang Nhiễm, có đôi khi ta thật sự rất ghét ngươi.”
“Tại sao ngươi có thể nói buông là buông? Tại sao ngươi có thể muốn về nhà là về nhà, có huynh trưởng thương ngươi, có mẫu thân yêu ngươi? Tại sao ngươi vĩnh viễn đều có đường lui?”
“Bây giờ ngay cả A Hoài cũng nhớ nhung ngươi, nghĩ về ngươi, bị ngươi cướp mất hồn. Ngươi vừa lòng rồi chứ?”
La Phù Ninh ngẩng đầu, con bướm trên cây trâm run rẩy, giống hệt như nàng ta lúc này, đang bị oán niệm giam cầm.
Ta thở dài, chỉ cảm thấy đau đầu: “Vậy tại sao ngươi không trách Lục Hoài Chi?”
Ta lại rót một tách nước lọc, đẩy đến trước mặt nàng ta.
“Đây, uống đi, không có độc.”
Nàng ta nắm lấy tách trà, ngón tay run rẩy.
“Năm đó trước khi thành hôn, ta quả thực không biết có sự tồn tại của ngươi. Nếu ta biết, hôn sự này chắc chắn sẽ không thành.”
“Ta tuy tiếng tăm không tốt, nhưng cũng không đến mức tự hạ thấp mình như vậy.”
“Hắn nói yêu ngươi, nhưng lại dễ dàng từ bỏ ngươi. Hắn nói báo ân, nhưng sau khi thành hôn với ta lại cùng ngươi dây dưa không dứt. Những việc hắn làm, từng chuyện từng chuyện, đều khiến ta coi thường hắn.”
Năm đó trước khi phụ thân bệnh mất, người duy nhất không yên tâm chính là ta.
Ta từ nhỏ đã nghịch ngợm, đám bạn học cùng lớn lên đều bị ta đánh cho một trận. Nhà bình thường đến nói mối, hễ nhắc đến tên ta là sợ đến mặt cắt không còn giọt máu.
Mẫu thân lo đến miệng phồng rộp, phụ thân cũng không nuốt trôi được cục tức này.
Lục Hoài Chi chính là xuất hiện vào lúc đó.
Hắn mồ côi phụ thân từ sớm, thuở nhỏ từng theo học ở nhà ta, có tình nghĩa sư đồ, gia thế cũng tương đương.
Huynh trưởng lén gọi ta đến, nhìn qua cửa sổ một lần, thế là hôn sự cứ thế ráo riết chuẩn bị.
Phụ thân nói Lục gia gia phong thanh bạch, Lục Hoài Chi có cốt cách quân tử, sau này chắc chắn sẽ không bạc đãi ta.
Ta gật đầu, nhưng trong lòng lại nghĩ, nếu hắn thật sự bạc đãi ta, hắn cũng chưa chắc đã đánh lại ta.
Giây tiếp theo, phụ thân lại trầm mặc: “Nếu thật sự chịu ấm ức, cũng không cần phải nhẫn nhịn.”
“Phụ thân có mua cho con một ít ruộng tốt ở Giang Nam, còn có cả nhà cửa, đều có người cũ trong phủ trông coi.”
“Ngày nào đó sống không nổi nữa, thì con cứ quay về, cũng không đến nỗi chết đói.”
Nhưng nước ấm nấu ếch, từng chút từng chút một, ta vậy mà cũng bất tri bất giác trở thành con ếch đó.
Sau khi La Phù Ninh đi, ngày hôm sau Lục Hoài Chi lại đến bái phỏng.
Hắn trầm mặc hơn rất nhiều, ngồi trong sảnh, không nói gì cũng không cáo từ. Ngay lúc ta sắp mất hết kiên nhẫn, hắn mới mở lời:
“Hôm đó ta uống say.”
“Nàng ấy ăn mặc rất mỏng manh, cứ khóc mãi, nhắc lại chuyện ngày xưa, ta…”
Ta ngắt lời hắn, nghiêm túc nói: “Lục Hoài Chi, đừng để ta coi thường ngươi.”
Khi ta còn ở đó, hắn luôn chê ta tính tình nóng nảy, không dịu dàng chu đáo như phu nhân nhà người ta. Ta đi rồi, hắn lại không chịu buông tay, thanh mai trúc mã ngày xưa cũng trở thành hạt cơm dính trên áo.
Thực ra hắn chẳng yêu ai cả, hắn chỉ yêu chính bản thân mình.
Lục Hoài Chi lại mở miệng, giọng đã khàn đặc: “Bên kinh thành công vụ còn tồn đọng, vẫn luôn thúc giục…”
“Nhiễm Nhiễm, chúng ta…”
“Nhớ gửi thư hòa ly đến đây.” Ta đứng dậy. “Tiện thể, chúc ngươi lên đường thuận buồm xuôi gió.”
Một tháng sau khi Lục Hoài Chi rời đi, ta nhận được thư hòa ly.
Vài hàng chữ ngắn ngủi, đã hoàn toàn cắt đứt với mấy năm quá khứ.
Vài ngày nữa trôi qua, đám dây dưa trồng ở vườn hoa sau nhà vậy mà cũng xiêu xiêu vẹo vẹo mà kết trái.
Ta vui mừng khôn xiết, chỉ hận không thể lập tức viết thư chia sẻ tin tốt này với Dung Nương và Tiếu Tiếu.
Bị huynh trưởng cười nhạo: “Dưa còn chưa mọc ra, lá đã vàng đi một nửa.”
Hừ, huynh ấy tưởng đổi chỗ khác là ta không biết huynh ấy giấu quỹ đen ở đâu à?
Từ nhỏ đến lớn, chỗ huynh ấy giấu tiền mua họa cụ cũng chỉ có mấy chỗ đó thôi.
Ta lại mách chỗ giấu tiền mới của huynh ấy cho tẩu tẩu, thật là hả hê.
…
Tin tức ta hòa ly không biết làm sao mà truyền ra ngoài. Bây giờ cứ dăm ba hôm lại có bà mối đến cửa.
Ta tự nhận mình đanh đá tùy hứng, chuyên quyền bá đạo, không thích hợp để thành hôn. Bà mối vậy mà lại nói đối phương tính tình dịu dàng đôn hậu, hay do dự thiếu quyết đoán, chính là cần người như ta giúp đưa ra quyết định.
…
Bị nói nhiều, mẫu thân cũng có chút dao động. Cứ cách vài ngày lại đến thăm dò ý của ta.
“Mẫu thân rồi cũng sẽ già đi, huynh trưởng của con bây giờ cũng đã thành gia lập thất. Tương lai để con lại một mình…”
Mấy năm ở kinh thành cuối cùng cũng đã mài mòn tính nết của ta.
Nếu là trước đây, ta nhất định sẽ làm ầm lên với mẫu thân một trận, quấy cho cả nhà gà chó không yên.
Nhưng bây giờ, ta vậy mà có thể bình tĩnh ngồi tranh luận với mẫu thân.
“Năm con mười bảy tuổi, phụ thân bệnh nặng, người nói con không thể để phụ thân đến lúc nhắm mắt vẫn không yên lòng.”
“Con đã gả đi.”
“Điều kiện của Lục Hoài Chi so với bây giờ cũng thuộc hàng trung bình khá. Kết quả ra sao, người cũng đã thấy rồi.”
“Năm nay con hai mươi tư tuổi, người lại nói sợ tương lai con không ai bầu bạn. Nhưng con có tài sản bên mình, có gia tộc che chở, có bạn bè kề bên, có tình yêu thương của mọi người làm chỗ dựa.”
“Tại sao người lại cứ muốn đẩy nữ nhi mà mình vất vả nuôi lớn, đến nhà người khác làm dâu chứ?”
“Mẫu thân, người cũng là người từng trải. Năm đó tổ mẫu còn khoan dung độ lượng, tổ phụ vạn sự không màng, người và phụ thân là thanh mai trúc mã, tình cảm sâu đậm, mà phụ thân vẫn còn có cơ thiếp trong nhà.”
“Người thật sự cảm thấy, gả đi là một lựa chọn tốt sao?”
Ngày chớm đông, Dung Nương gửi thư đến, mời ta và Hạnh Nhi đến huyện Thanh Trì ngắm tuyết.
Giang Nam rất hiếm khi có tuyết rơi.
Mấy năm ở kinh thành, ta cũng chỉ cảm thấy lạnh, chứ chưa bao giờ có hứng thú ngắm tuyết.
Ta thu dọn hành lý, chuẩn bị đến huyện Thanh Trì để tiếp tục khảo sát sự nghiệp son phấn vĩ đại của mình.
Trước khi đi, mẫu thân gọi ta lại: “Nếu có cơ hội, hãy đưa người bạn kia của con về nhà xem thử.”
Ta cười gật đầu.
Xuân có trăm hoa, thu có trăng.
Hạ có gió mát, đông có tuyết.
Giờ đây, há chẳng phải là thời tiết đẹp nhất trên đời sao?
(Hết)