Thiên Kim Thật Trở Mình Nơi Thôn Dã

Chương 1



1.

Tôi là thiên kim thật bị bế nhầm của nhà họ Triệu – một gia tộc hào môn ở Giang Hộ.

Tôi lớn lên ở làng Ngũ Lý nghèo khó lạc hậu, cha mẹ nuôi mất sớm, tôi sống nhờ cơm từng nhà trong xóm.

Còn thiên kim giả thì lớn lên nơi phố phường giàu có, ngậm thìa vàng, đeo vàng mặc lụa, ăn sơn hào hải vị.

Hai mươi sáu năm sau, cha mẹ ruột cuối cùng cũng tìm được tôi, đưa tôi về nhà họ Triệu sang trọng giàu có.

Thế nhưng câu đầu tiên mà cha ruột – Triệu Bá Hoành – nói với tôi lại là:

“Con tuy là con ruột của chúng ta, nhưng lớn lên ở nông thôn, không ai dạy dỗ, chẳng hợp để xuất hiện nơi sang trọng.

Sau này phải ăn nói cẩn thận, học hỏi Thục Đồng nhiều vào, học cách làm tiểu thư khuê các.”

Mẹ ruột tôi ngồi thẳng thớm trên sofa, tay nắm chặt tay Thục Đồng – thiên kim giả – giọng đầy ghét bỏ:

“Dù con là con gái ruột của mẹ, nhưng đừng tưởng có thể đè đầu Thục Đồng.”

Vừa nói, bà vừa đánh giá tôi từ đầu tới chân:

“Sao lại ăn mặc lôi thôi thế này? Sau này học cách phối đồ từ Thục Đồng đi!”

Anh cả tôi – Triệu Chấn Nghiệp – dáng vẻ sáng sủa, vừa đẩy kính lên vừa nói:

“Người em có mùi gì thế? Sau này bước vào nhà nhớ rửa mặt chải đầu trước.”

Anh hai – Triệu Chấn Danh – khoanh tay lạnh lùng:

“Nhà họ Triệu chỉ có một đứa con gái là Thục Đồng. Em đừng tưởng có thể giành lấy vị trí đó.”

Thục Đồng – thiên kim giả – ngồi nghiêng chân bên cạnh mẹ Triệu, tóc đen dài bóng mượt, mặc bộ đồ Chanel vừa vặn, dù ở nhà cũng đi đôi giày cao gót mười phân.

Làn da trắng trẻo, nụ cười tiêu chuẩn, trông rất ra dáng thiên kim.

Thấy tôi nhìn, cô ta cố tình vén tóc, để lộ cổ tay đeo đầy trang sức quý giá và bàn tay thon dài trắng trẻo.

Sau đó, cô ta cúi mắt xuống, giọng nói mềm yếu đáng thương:

“Chị Nguyệt Nha, là em có lỗi, đã chiếm lấy vị trí của chị. Nhưng em thật sự không nỡ rời xa ba mẹ… chị đừng đuổi em đi.”

Tôi lặng lẽ lắng nghe những lời chán ghét từ chính những người thân máu mủ, nghe thiên kim giả diễn vai nạn nhân yếu đuối.

Tôi cúi đầu nhìn đồng hồ – vừa tròn mười phút từ lúc tôi bước qua cánh cửa nhà họ Triệu.

Chỉ mười phút ngắn ngủi đã quá đủ để tôi nhìn rõ – không ai ở đây thực lòng chào đón tôi.

Dù sao thì, hôm qua khi cha ruột tìm được tôi, tôi còn đang cõng bảy tám chục cân ngô giữa trưa nắng.

Ông ta chẳng buồn bảo tôi bỏ gánh xuống, chỉ lo kể lại chuyện bị bế nhầm năm xưa.

Nhưng tôi vẫn đến. Một phần là vì còn chút hy vọng với máu mủ ruột thịt, một phần là vì tôi vốn định tới Đại học Nông nghiệp Giang Hộ chọn cây trồng kinh tế – tiện thể tiết kiệm được tiền đi đường.

Kim đồng hồ chỉ đúng mười hai giờ.

Tôi nhấc chiếc ba lô nhỏ bên mình, đứng dậy rời đi giữa ánh mắt khinh bỉ của nhà họ Triệu:

“Đã không hoan nghênh thì tôi xin phép cáo từ.”

Anh cả cười nhạt:

“Giả vờ bỏ đi để người ta giữ lại à? Đi rồi thì đừng quay về!”

Anh hai hừ lạnh:

“Con nhà quê gặp giàu sang, xem cô có nỡ bước đi không?”

Chỉ có Triệu Thục Đồng là giả vờ tốt bụng đến kéo tôi lại, nhưng bị mẹ ruột tôi giữ chặt không cho tới gần.

Tôi không ngoảnh đầu lại, bước thẳng ra khỏi cổng nhà họ Triệu.

Trong lòng chỉ còn duy nhất một suy nghĩ: Trò hoán đổi thật – giả thiên kim thật quá nhàm chán.

Ngô ở làng chắc cũng sắp chín rồi, tôi phải về bẻ ngô thôi.

Sau khi trở về làng, tôi lập tức quay lại với công việc vất vả như trước kia.

Mỗi sáng trèo núi quan sát và ghi chép số liệu tăng trưởng của ruộng thử nghiệm.

Buổi chiều thì làm theo quy hoạch của chính quyền, xuống ao trồng sen, góp sức xây dựng cảnh quan đầm sen trăm mẫu.

Tôi nghĩ rằng mình với nhà họ Triệu từ nay đã không còn liên quan gì nữa.

Dù sao họ vốn cũng chẳng xem trọng đứa con gái ruột này.

Bây giờ tôi chẳng vướng bận gì, còn họ vẫn có cô con gái “hoàn hảo” đúng ý như mong muốn.

Cái trò thật – giả thiên kim đó… giống như chưa từng tồn tại.

Tôi chưa bao giờ nghĩ rằng nhà họ Triệu sẽ còn liên lạc lại với mình.

Lúc đó, tôi đang xử lý một vụ tranh chấp trong làng.

Nhà ông Lục sửa nhà lấn sang đất nhà ông Thất tới sáu thước. Hai nhà ầm ĩ đến mức suýt đánh nhau, kéo đến tìm tôi phân xử.

Phân xử cái gì bây giờ?

Tôi chỉ nói luôn: hai bên mỗi nhà lùi lại sáu thước, ở giữa để lại một con đường rộng hai mét.

Ông Lục nghe xong suýt nhảy dựng lên: “Lê Nguyệt Nha! Con không thể làm cán bộ rồi quên gốc! Năm con sáu tuổi bị sốt cao, là ta với ba con đạp xe suốt đêm đưa con ra huyện chữa trị đấy!”

Ông Thất cũng khoanh tay, không chịu kém cạnh: “Lê Nguyệt Nha! Con đừng quên ai là người giúp con! Mẹ con mất, cả tháng trời ta là người ngày nào cũng đem cơm, đưa con đi học!”

Họ nói đúng cả.

Hai nhà đều là bác, là chú nhìn tôi lớn lên, đều có ơn nghĩa sâu nặng.

Vì vậy, tôi chẳng thể nghiêng về bên nào.

Tôi đưa hai ngón tay bịt tai lại, ngẩng đầu nhìn trời, miệng liên tục nói:

“Con đường này để lại, làng sẽ bỏ tiền ra làm. Hai bên trồng đầy hoa, xây thành một con đường hoa để khách du lịch tới chụp hình tham quan. Cả hai nhà có thể mở hàng buôn bán bên đường.”

Ông Lục lập tức im lặng, quay người hô to với người đang xây nhà:

“Nhanh lên, lùi vào! Lùi vào một đoạn để chừa đường!

Lùi sáu thước chưa đủ, lùi thêm sáu thước nữa! Làm rộng ra chút, chứ đường hẹp khách du lịch họ không muốn đến đâu!”

Ông Thất cũng chạy một mạch về nhà, vừa chạy vừa gọi:

“Bà ơi! Mau đem tiền ra, sửa lại cái bãi bùn trước cửa nhà đi, đừng để khách giẫm bùn nữa!”

Ở nơi heo hút nghèo nàn này, ngay cả anh em ruột cũng có thể vì tranh nhau vài ba mẫu ruộng mà đánh nhau sứt đầu mẻ trán.

Cái họ tranh giành không phải là đất, mà là đường sống cho cả gia đình.

Nhưng khi trước mắt có một con đường tốt hơn, ai mà không muốn đi?

Tôi hạ tay xuống, lấy thước dây ra đo đường, trong đầu đã vẽ sẵn bản thiết kế cho con đường hoa đó.

Sẽ trồng đầy hoa hồng tỉ muội – màu hồng, đỏ, và cả màu champagne.

Xét theo mùa thì còn cần thêm vài loài khác.

Phải dựng giàn hoa, lắp xích đu, hai bên đường còn nên có tranh tường hoặc hình vẽ xinh xắn…

Đúng lúc đó, điện thoại vang lên.

Là số máy đến từ Giang Hộ.

Tôi nhíu mày.

Quả nhiên, vừa bắt máy, giọng nói của Triệu Bá Hoành liền xuyên qua màng nhĩ:

“Lê Nguyệt Nha! Tôi cho cô một cơ hội cuối cùng! Nếu còn không quay về, từ nay nhà họ Triệu sẽ không có đứa con gái nào là cô nữa!”

Nhà họ Triệu nổi cơn gì vậy?

Lúc trước còn chê bai tôi, giờ lại muốn gọi tôi về?

Buồn cười thật.

Triệu Bá Hoành nói cứ như thể nhà họ Triệu trước giờ thật sự từng có một đứa con gái là tôi vậy.

Họ nuôi cho được cái cô thiên kim giả trong biệt thự đó là giỏi lắm rồi.

Tôi “tạch” một tiếng dập máy, rồi giẫm đôi ủng dính đầy bùn tiếp tục công việc đang dang dở.

Gì mà con gái nhà họ Triệu, ai muốn làm thì làm.

Dù sao tôi không làm.

Tôi tưởng rằng nhà họ Triệu đã hoàn toàn không muốn dính líu đến tôi nữa.

Tôi đang vui vì được tự do thì lại thấy một người đứng trước cửa văn phòng làng.

Người đó chính là Triệu Thục Đồng – nghe nói là tự mình xung phong đến khuyên tôi quay về nhà họ Triệu.

Cô ta kéo theo một chiếc vali, ăn mặc chỉnh chu thời thượng, mặc bộ Chanel, đi giày cao gót bảy phân, đứng chễm chệ trước văn phòng làng.

Trông cô ta như một con búp bê xinh đẹp.

Một con búp bê bọc đầy bùn đất từ đầu đến chân.

Tiểu thư nhà giàu cao quý mặt mũi lấm lem, suýt thì phát điên: “Cái nơi quái quỷ gì thế này!”

Tôi xách va-li của cô ta dẫn vào căn nhà cấp bốn nhỏ bé của mình: “Đây là nơi cha mẹ ruột của cô đã sống cả đời.”

Triệu Thục Đồng im lặng, không nói thêm lời nào.

Tôi liếc nhìn cô ta, phát hiện cô đang cẩn thận quan sát căn nhà nhỏ này.

Phải rồi, đây cũng từng là nhà của cha mẹ ruột cô ta.

Tôi vốn định ra ngoài, nên quyết định cứ để cô ta ở lại một mình cảm nhận.

Nhưng Triệu Thục Đồng lại gọi tôi lại.

“Muộn thế rồi chị còn đi đâu?”

Cô ta vừa nhìn quanh căn phòng đơn sơ của tôi, vừa có chút lo lắng ôm lấy cánh tay.

Tôi nhận ra cô ấy đang có phần ngại ngùng.

Vì vậy tôi xỏ ủng cao su, khoác áo mưa, đẩy chiếc xe điện nhỏ đã chất sẵn bánh bao, bánh mì và bánh ngọt:

“Sắp mưa rồi, tôi phải đến nhà mấy cụ già trong làng xem thế nào, tiện mang cho họ chút lương thực dự trữ.”

Nếu mưa nhiều ngày, các cụ già trong làng e là sẽ hết lương thực. Tôi phải đến xem sao.

Trời vẫn chưa mưa, nhưng mây đen dày đặc đã che khuất vầng trăng vốn sáng rực trong làng.

Trong gió nồng nặc mùi bùn đất.

Mái hiên nhà bà Tô lại treo đầy vải phơi. Tôi trèo lên giúp bà cất đi, miệng không ngừng càm ràm hét lớn với bà – người bị lãng tai:

“Con nói bao nhiêu lần rồi, bà già rồi thì đừng leo lên mái nhà nữa! Nếu ngã xuống không ai biết thì làm sao bây giờ hả!”

Bà Tô bị tôi lải nhải làm phiền, xoay đầu tóc bạc trắng sang hướng khác: “Ngã thì ngã chết luôn chứ sao nữa, còn làm gì được!”

Cụ ông Lâm thì đang ngậm tẩu hút thuốc, vừa vặn lại chiếc radio cũ kỹ, vừa đẩy tôi ra ngoài:

“Trẻ ranh mà lo lắng đủ chuyện. Tôi già rồi ngủ ít, nếu nghe thấy núi lở thì tôi tự biết mà chạy.”

Cô Chu vừa nhận túi lương thực dự trữ, nhất định đòi kéo tôi vào nhà.

Bà lục lọi dưới cả đống chăn dày, mãi mới tìm được một miếng bánh Sa xi ma rồi nhất quyết nhét cho tôi.

Tôi đi một vòng quanh làng, bánh bao, bánh mì, bánh ngọt đều đã được phát hết.

Kết quả là tôi lại mang về cả túi đầy bánh sa-xi-ma, kẹo dẻo QQ và bánh đào nướng.

Triệu Thục Đồng nếm thử một miếng sa-xi-ma, vừa nhai vừa nhăn mặt nhổ ra: “Èo, hết hạn rồi à? Có mùi lạ thật đấy!”

Tôi chỉ “ừ” một tiếng, cởi đôi ủng dính đầy bùn đất:

“Là bánh tôi mang đến từ năm ngoái. Các cụ không nỡ ăn.”

Đến lúc già rồi, họ cũng quên mất là tôi đã mang tới.


Tip: You can use left, right, A and D keyboard keys to browse between chapters.