Rời khỏi Quốc công phủ, đứng giữa đường lớn, ta đã mông lung một hồi lâu.
Kể từ ngày vào phủ cầu thân năm năm trước, suốt năm năm trời, ta chưa từng bước chân ra khỏi cửa nửa bước.
Cuộc sống của một nữ nhân chốn thâm trạch đã gần như bào mòn hết mọi kết nối của ta với thế gian phồn hoa khói lửa này.
May thay, đó chỉ mới là năm năm, chứ không phải mười năm, hai mươi năm.
Ta tìm một khách điếm trọ lại trước, lấy ra một ít bạc vụn đưa cho chưởng quỹ:
“Ta muốn xuống phía Nam, không biết có cách nào không?”
Chưởng quỹ nhận bạc, nhướng mày:
“Nữ nương tử đi một mình, vậy mà cũng không hề lỗ mãng.”
Ta mỉm cười, khách điếm này có thể mở ở nơi phồn hoa nhất kinh đô, mạng lưới quan hệ nơi phố thị trong tay chưởng quỹ ắt hẳn là đầy đủ nhất.
Chưởng quỹ nói:
“Đường bộ hung hiểm, không có chỗ cho nữ tử yếu đuối.
Muốn được bình an thì chỉ có thể đi đường thủy.
Tào bang cứ ba ngày mới có một chuyến thuyền lớn chuyên chở các vị quan phu nhân tiểu thư đi thăm họ hàng thân thích.
Nếu nữ nương có bạc, vé thuyền cũng không khó mua.”
Bạc thì ta vẫn còn nhưng không nhiều.
Nếu dùng hết ở đây, e rằng khi đến Vân Mộng sẽ lâm vào cảnh thiếu thốn.
Chỉ suy nghĩ một lát, ta liền lấy ra một miếng ngọc bích không tì vết từ trong lòng.
Chưởng quỹ vừa thấy miếng ngọc, hai mắt liền sáng rực.
“Ta dùng miếng ngọc này đổi lấy hai thứ từ ông.
Thứ nhất, vé thuyền đi Vân Mộng.
Thứ hai, sự bình an của ta trước khi lên thuyền.”
Chuyến thuyền lớn đi về phía Nam gần nhất đã khởi hành ngày hôm qua, chuyến tiếp theo phải đợi hai ngày nữa.
Trong hai ngày này, ngày đầu tiên thì sóng yên biển lặng, nhưng ngày thứ hai lại ồn ào không ngớt.
Ta đẩy hé cửa sổ nhìn ra ngõ phố, quan sai của Đại Lý Tự có mặt khắp nơi.
Kể từ khi Tuân Tấn Vân tiếp quản Đại Lý Tự ba năm trước, kinh thành đã thái bình một thời gian dài, ngay cả Bệ hạ cũng từng khen ngợi trong bữa tiệc ban thưởng đêm giao thừa.
Lát sau, tiểu nhị mang cơm nước lên, còn đặc biệt dặn dò:
“Chắc là đã xảy ra chuyện lớn, hôm nay quan sai của Đại Lý Tự đang lùng sục khắp thành.
Chưởng quỹ đặc biệt dặn dò, nữ nương vạn lần không được rời khỏi phòng.
Đợi đến sáng mai, ông ấy sẽ đưa người ra khỏi thành đến bến đò.”
Đêm đó, tuy ta đã khóa cửa đóng cửa sổ, nhưng ánh đuốc trong tay quan binh ngoài ngõ vẫn xuyên qua lớp giấy dán cửa sổ, hắt vào trong phòng.
Ta nghĩ, chắc hẳn Tuân Tấn Vân đã gặp phải vụ án lớn rồi.
Nhưng hắn thông minh, lạnh lùng, đoan chính, sáng suốt, mọi sự vạn vật đều nằm trong tầm kiểm soát, trong mắt trong tim chỉ toàn là sương tuyết lạnh lẽo.
Một hình mẫu của công tử thế gia… vốn nên là như vậy, hợp lẽ là như vậy.
Ngày hôm sau, khi trời vừa hửng sáng, ta đã ngồi trên xe ngựa của khách điếm.
Cổng thành mở ra, chưởng quỹ nhét ít tiền bạc cho lính gác cổng lo lót, xe ngựa từ từ rời khỏi cổng thành kinh đô.
Ta ngồi trong xe, dường như nghe thấy một tiếng hô lớn từ bên ngoài.
“Nữ nương đừng hoảng sợ.”
Chưởng quỹ ghé sát rèm xe, nói nhỏ: “Trong thành truyền tin, sắp đóng cổng thành.
Nhưng chúng ta đã ra ngoài rồi, một lát nữa là đến bến đò.”
Lúc xuống xe, bên ngoài trời bắt đầu đổ mưa.
Ta cầm vé thuyền, sau khi xác nhận không có gì sai sót, liền lên thuyền.
Chưởng quỹ nhận ngọc bích ngàn lượng, cũng coi như có lương tâm.
Phòng khách tuy không rộng rãi bằng của các gia quyến quan lại, nhưng cũng sạch sẽ gọn gàng.
Bên ngoài vang lên ba tiếng chiêng, nam nhân và nữ nhân đồng thanh hô lớn:
“Long Vương gia! Phù hộ bình an!”
Cảm thấy thân thuyền khẽ lắc lư, ta cuối cùng không nhịn được mà đẩy cửa sổ gỗ ra, nhìn về phía kinh thành mịt mờ trong mưa bụi.
Năm năm trước, lòng ta hân hoan vui sướng.
Bây giờ, lòng đã như nước lặng.
Nhưng khi ta định đóng cửa sổ lại, ta bỗng thấy một bóng người dường như đang chạy như bay đến trong màn mưa.
Mưa lớn như vậy, người đó e là toàn thân đều ướt sũng.
Cũng chẳng biết là tiễn ai, chỉ là, dù tiễn ai đi nữa, cũng đã muộn rồi.
Ta đã trở về Vân Mộng.
Chỉ tốn ba lạng bạc đã mua được một tiểu viện nhỏ cạnh hồ sen.
Ta dựng hàng rào, giăng đầy giàn hoa, trồng thêm dưa quả.
Ta lại quay về với công việc hái thuốc, ban ngày lên núi đào thuốc, tối về nghiên cứu y thư.
Hôm đó, ta vẫn lên núi như thường lệ, và phát hiện một cậu bé toàn thân đầy máu giữa đống đá lởm chởm.
Cánh tay, đùi và nửa bụng của nó đã bị thú dữ cắn xé, nội tạng gần như có thể nhìn thấy, nhưng nó lại không chết.
May mà hôm nay ta có hái cỏ cầm máu, sau khi đắp thuốc băng bó cho nó, ta đã mang nó về nhà.
Vốn nghĩ rằng bị thương nặng như vậy, nó khó mà sống sót, nhưng nó lại kiên cường vượt qua bảy ngày bảy đêm sốt cao hành hạ, đến sáng ngày thứ tám thì mở mắt.
Đôi mắt đen láy, trong veo như một hồ sen biếc, tinh khiết không một hạt bụi.
“Người là ai?”
Nó yếu ớt cất tiếng, rồi lại lẩm bẩm hỏi: “Là mẫu thân của ta sao… Vậy ta, ta là ai?”
Sau ngày hôm đó, trong tiểu viện nhỏ đã có thêm một đứa trẻ tên là Lạc Vũ Niết.
Lạc Vũ Niết có thể thoát chết từ miệng thú dữ, tính tình chẳng khác nào một con sói con.
Nó là một đứa trẻ mồ côi không rõ lai lịch, còn ta là quả phụ mới đến, khó tránh khỏi những lời đàm tiếu.
Những lời ong tiếng ve so với ở Quốc công phủ, đối với ta mà nói, chẳng đau chẳng ngứa.
Nhưng Lạc Vũ Niết lại không hề nhượng bộ.
Tối đó ta đang tắm, nghe thấy bên ngoài có tiếng động, ngay sau đó là một tiếng hét thảm thiết.
Khi ta vội vàng chạy ra ngoài, thì thấy Vũ Niết đang cầm chổi, đánh túi bụi vào gã say rượu vừa rơi xuống.
Kể từ đó, mỗi lần ta tắm, nó đều dời chiếc ghế đẩu nhỏ ra ngồi trước cửa phòng ta.
“Mẫu thân không phải chỉ có một mình, con có thể bảo vệ người.”
Mỗi ngày Vũ Niết đều thức dậy từ khi trời chưa sáng, dùng chiếc xô nhỏ xách nước đổ đầy chum, vo gạo nấu cháo, phơi dược liệu, đợi đến khi mặt trời lên cao mới gọi ta dậy ăn cơm.
Nó dùng gạo tấm, gạo lứt còn thừa trộn với cỏ non, rau xanh để nuôi gà nuôi vịt, dùng dây đay nhỏ gia cố lại giàn hàng rào, ôm một bó cỏ tranh trèo lên mái nhà sửa chữa.
“Con không cần phải làm vậy, ta mới là mẫu thân…”
“Chính vì người là mẫu thân.” Vũ Niết đặt quả trứng gà đã bóc vỏ vào bát của ta, nói một cách đương nhiên, “Nhi tử chăm sóc mẫu thân, vốn là chuyện thiên kinh địa nghĩa.”
Ta lại nhớ đến đôi trai gái ở kinh đô xa xôi.
Hai đứa trẻ sau khi sinh ra đã được đưa đến cho lão phu nhân nuôi dạy.
Mỗi năm chỉ vào ngày sinh thần của ta, chúng mới đến thỉnh an ra mắt, dùng dáng vẻ được dạy dỗ vô cùng khuôn phép, cử chỉ hành động đều xa cách vạn phần.
Ta chia đôi quả trứng, đưa cho nó một nửa:
“Mẫu thân chăm sóc nhi tử, cũng là chuyện đương nhiên.”
Thấy ta cười tủm tỉm, Vũ Niết cúi đầu, ăn hết nửa quả trứng trong một miếng.
Không lâu sau, ta gửi Vũ Niết đến trường học.
Trường học ở nông thôn có rất nhiều đứa trẻ nghịch ngợm, nhưng Vũ Niết lại khác với những đứa trẻ khác.
Nó luôn ngồi ngay ngắn, đọc sách một cách cẩn thận.
Lão phu tử thấy nó trầm tĩnh như vậy, thường giữ nó lại sau giờ học, riêng tư dạy bảo rất nhiều.
Một lần tuyết rơi lớn, ta lo nó khó về nhà, liền mang ô đến đón nó.
Vừa đến cổng trường, đã nghe thấy lão phu tử hỏi:
“Tại sao con lại có thể chuyên cần đến vậy?”
Giọng Vũ Niết non nớt mà trầm ổn:
“Con đã biết mình không phải con ruột, nhưng mẫu thân một mình nuôi nấng còn hơn cả ruột thịt.
Nếu không đỗ đạt thành danh, để mẫu thân được bình an thuận lợi, làm sao có thể báo đáp ân tình?”
Ta ngẩng đầu nhìn trời tuyết trắng xóa, rõ ràng là rất lạnh, nhưng trong lòng lại có một luồng hơi ấm.