Nương theo màn đêm che phủ, ta tránh được vòng vây và chạy một mạch về căn viện nhỏ đơn sơ cuối phố Tây Trực.
Hai đứa trẻ bẩn thỉu đang ngồi xổm trước cổng, cắm cúi chơi ném đá.
Ta thấy chúng có chút quen mắt nhưng không dám tùy tiện cất lời, bèn lên tiếng dò hỏi: “Hổ Tử? Tiểu Bàn?”
Hai đứa nghe tiếng liền ngẩng đầu. Ánh mắt chúng nhìn ta đầy mơ hồ: “Ngươi tìm ai?”
Gương mặt thân quen ngày nào, ba năm trôi qua đã chững chạc hơn không ít. Hổ Tử lanh lợi là người đầu tiên nhận ra rồi hét lớn:
“… A Nhược?”
“Mọi người mau ra đây! Bà bà ơi! A Nhược Tỷ về rồi!”
Ta vội kéo hai đứa vào sân, khép lại cánh cửa gỗ ọp ẹp: “Suỵt, nói nhỏ thôi!”
Hơn chục đứa trẻ ùa ra như ong vỡ tổ, vây chặt lấy ta. Có đứa đã cao gần bằng ta, có đứa mới chỉ đứng đến eo, lại có đứa đi còn lẫm chẫm, mép dính đầy cơm.
Chúng được huynh tỷ bế trong lòng, cứ thế cười với ta: “Tỷ… tỷ.”
Ta dốc hết những thứ quý giá trong bọc hành lý ra — bạc, vòng ngọc, dây chuyền vàng, hoa tai đá quý, và cả một viên trân châu lớn.
“Có số tiền này rồi, mọi người sẽ được ở nhà cao cửa rộng, được ăn no mặc ấm, không còn bị người ta xua đuổi như loài chó hoang nữa. Chúng ta sẽ mời đại phu giỏi nhất chữa ho cho bà bà, đóng một chiếc xe lăn gỗ cho Châu Châu, làm một đôi nạng cho Tiểu Tráng. Vứt hết mấy bộ y phục rách như giẻ của các đệ đi. Ngày mai chúng ta đến tiệm may cho mỗi người một bộ đồ mới!”
Nhìn đôi chân trần của Hổ Tử, ta chợt nghẹn ngào. Đứa trẻ hiểu chuyện này luôn nhường những thứ tốt nhất cho các em, để rồi giữa mùa đông rét buốt, mười đầu ngón chân lúc nào cũng tím bầm vì giá lạnh.
“Rồi chúng ta sẽ đến tiệm giày lớn nhất kinh thành, mua cho mỗi đứa mấy đôi giày.”
Hổ Tử lắc đầu.
“A Nhược tỷ, ở trong cung tỷ chắc chắn đã chịu nhiều khổ cực. Số tiền này kiếm được không dễ dàng, đừng tiêu xài hoang phí.”
Nó nhặt lên một tấm lệnh bài nằm dưới đáy bọc. Lệnh bài làm bằng kim loại, trên có khắc tám chữ: “Thừa Thiên Ngự Cực, Trữ Nhị Chiêu Minh.”
“Cái này là gì vậy?”
“Đồ không đáng tiền.” Ta tiện tay nhét tấm lệnh bài vào túi. “Phải rồi, bà bà đâu?”
Ba năm không gặp, sức khỏe của bà bà đã sa sút đi nhiều. Bà bà nằm thiêm thiếp trong nhà, thỉnh thoảng lại ho khan vài tiếng. Mái tóc vốn đã điểm bạc nay hoàn toàn trắng xóa như cước. Ta cúi thấp người, nắm lấy bàn tay khô gầy của bà.
“Bà bà ơi, con về rồi. Con đã để người phải lo lắng.”
Bà bà nhìn ta, nước mắt cứ thế tuôn rơi: “Năm đó Hổ Tử chạy về báo con bị người ta bắt đi, ta còn sợ con tính tình nóng nảy sẽ đắc tội với quyền quý.”
“Ta đã đến nha môn đánh trống kêu oan, rồi lại quỳ gối trước cổng cung cầu xin họ thả người. Đợi rất lâu mới có một thái giám ra truyền lời. Nhưng y tuyệt nhiên không nhắc gì đến con, chỉ bảo ta cứ yên tâm trở về.”
“Làm sao mà yên tâm cho được? Ba năm ròng, ta chưa đêm nào ngon giấc…”
Ta vội lau đi giọt lệ chực trào, lòng đau như dao cắt. Sớm biết thế này, ngày ấy ta đã chẳng hiếu kỳ đi xem hành hình làm gì.
Đầu người rơi xuống chẳng có gì hay ho, chỉ có ánh đao lạnh lẽo, máu thịt văng tung tóe, lại còn trúng phải thứ cổ trùng kỳ quái.
“Trúng cổ trùng?”
“Vâng, nghe nói chỉ cần con chết, hắn cũng không sống nổi. Cho nên ba năm trong cung, hắn xem con như tổ tông mà phụng dưỡng. Hắn ăn gì con ăn nấy, ở cũng là nhà cao cửa rộng, còn có cung nữ hầu hạ tận tình.”
Bà bà vẫn không yên lòng: “Vậy cổ trùng đó…”
Ta toe toét cười: “Giải rồi ạ! Chẳng biết sao lại tự giải được. Con đã thử chích vào tay, đập đầu vào tường, nhịn đói cả ngày không ăn. Tạ Hoài An chẳng có phản ứng gì hết.”
Bà bà im lặng nhìn ta, vẻ mặt trầm tĩnh. Một lúc lâu sau bà mới lên tiếng: “A Nhược, con vẫn còn chuyện giấu ta.”
Chẳng điều gì qua được đôi mắt tinh tường của bà. Ta lè lưỡi: “Con lén trốn khỏi cung, chắc chắn đã chọc giận Tạ Hoài An. Người của hắn đang lùng bắt con khắp thành, nhưng con không muốn quay về đó nữa. Nơi này không nên ở lâu. Con biết một con đường nhỏ bí mật để ra khỏi thành, con để bạc lại, dặn dò xong sẽ đi ngay.”